Văn Hóa Ẩm Thực Của Người Miền Tây

Ẩm thực là tiếng dùng khái quát nói về việc ăn và uống. Văn hóa ẩm thực bao gồm cả cách chế biến, bày biện và thưởng thức từng món ăn, thức uống, từ đơn giản, đạm bạc đến cầu kỳ mỹ vị. Chung nhất là vậy, song khi nói đến văn hóa ẩm thực ở một vùng/miền nào đó thì nhất thiết phải nói lên “đặc điểm tình hình” mới có thể nêu được bản sắc văn hóa đặc trưng cụ thể của vùng/miền ấy. Ở Nam Bộ nói chung và miền Tây nói riêng đâu đâu cũng đất rộng sông dài, nơi nào cũng kinh rạch chằng chịt lại lắm lung, hồ, búng, láng…, không nơi nào không nhung nhúc cá, tôm, rắn, cua, rùa, ếch… đã vậy còn có cả rừng già, rừng thưa, đầy dẫy chim muông, thú to, thú nhỏ. Phía này thì “năm non bảy núi” trập trùng, không biết cơ man nào là “sơn hào”, còn phía nọ thì biển Đông, biển Tây, toàn là “hải vị”!

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

Cá Rô Kho Tộ


Cá rô nổi tiếng thơm ngon bổ dưỡng, có thể trị chứng đau lưng hiệu quả.
Ở nước ta có rất nhiều loại cá đồng (cá nước ngọt) khác nhau, cũng có nhiều loại cá ăn ngon, song hầu như không để lại những ấn tượng sâu đậm như cá rô mà người dân quen gọi là “cá rô đồng”. Cũng không phải ngẫu nhiên mà cá rô lại được nhân dân ta, từ xưa đã có nhiều ngôn từ để ghi nhận, như “ngon như gan gà, trứng cá rô”, “cá rô kho tộ”, “cá rô đầm Sét” nổi tiếng là ngon thơm.

Cá rô thường (Anabas) là loài cá rất phổ biến ở nước ta. Chúng sống nhiều ở ao, hồ, ruộng nước… Thân cá hơi dẹt, đầu múp, nắp mang khỏe và có răng cưa, vây lưng có nhiều gai cứng. Chiều dài thân chỉ  khoảng 15 – 20cm, nặng chừng 20 – 80g. Cá lớn chậm nhưng rất khỏe, có thể sống được trên cạn khá lâu nhờ vào bộ phận hô hấp phụ gọi là hoa khế; đó là những nếp màng nhầy với nhiều mạch máu nhỏ li ti.
Vào mùa khô hanh, cá lẩn sâu trong lớp bùn lầy. Một khi có hạn hán kéo dài, cá rô có thể tự di chuyển ngay trên mặt đất hoặc leo cả lên các bờ ghềnh, bờ dốc của đầm, suối… thậm chí cả lên cây để đi tìm nguồn nước mới. Chính vì lẽ đó, cá rô còn được gọi dưới một cái tên nữa là cá rô leo (Climbing fish). Thịt cá rô hoặc hai buồng trứng màu vàng ươm của nó rất thơm ngon, bùi và béo ngậy. Là loại thực phẩm rất ngon và bổ. Ai đã từng ăn món cá rô kho tộ, cá rô chiên, cá rô canh cải, thì khó mà quên được!

Mùa đông đến rồi, một tộ cá rô đồng kho nóng hổi, thơm phức sẽ đưa cơm lắm đấy

Món ăn này phảng phất hương vị đồng quê, sử dụng nguyên liệu dân dã làcá rô và cách chế biến cũng đơn giản, Làm sạch cá rô để ráo, ướp: 1 muỗng cà phê tiêu, 2 muỗng cà phê bột ngọt, 1 muỗng xúp tỏi băm, 2 muỗng xúp nước mắm. Để cá thấm 30 phút. Tỏi băm nhuyễn. Nồi đất để nóng cho 2 muỗng xúp dầu, 2 muỗng xúp đường quậy tan, để lửa trung bình. Đường ngả màu vàng cho cá vào đảo nhanh tay, trở đều. Chế nước lạnh ngập mặt, để lửa riu riu. Khoảng 15 phút cá chín, có màu vàng, nêm lại vừa ăn. Nước cá sâm sấp, rắc tiêu lên mặt cho thơm. Món này cần ăn nóng với cơm.


Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

Canh chua cá chốt với lá me non


Nhớ lại, khi những cơn mưa đầu mùa trở lại, từng đàn cá chốt kéo nhau về những láng và kênh rạch để đẻ... Tụi nhỏ chúng tôi thì nhảy tùm xuống kênh rạch để vừa đùa chơi vừa giăng lưới bắt cá chốt cho buổi ăn gia đình. Một tay lưới dài lưng chục mét được giăng vào luồng đi của cá - luồng đi này chỉ có chúng tôi, những đứa sinh ra từ đồng ruộng, từ nhà quê mới rành - cứ thế bỏ mặc, đi đùa giỡn cùng sóng nước thỏa thích. Khi bụng cảm thấy cồn cào thì tìm về lần tay lưới đã giăng và ê hề là cá, những con cá chốt bụng óng ánh những trứng và trứng mắc vào lưới, cẩn thận gỡ từng con, tránh để gai cá chốt đâm vào tay kẻo nhức thấu xương đó ! Cá đem về được mẹ chế biến thành nhiều món ăn, nhưng món ăn cứ mỗi lần nhắc đến lại khiến dịch vị tôi tiết ra liên hồi và thèm thuồng nhất vẫn là món canh chua cá chốt nấu với lá me non. Trong khi mẹ đang làm sạch những con cá chốt còn tươi xanh, thì tôi nhảy vội lên cây me hái những lá me non xanh mướt. À ! Mẹ nói nấu canh chua cá chốt chỉ đặc trị là lá me non thì nồi canh mới chua mà thanh và có tác dụng giải cảm tốt cho khí hậu oi bức của những cơn mưa đầu mùa. 

Thế đấy, những chùm lá me non được cho vào nồi nấu, lọc lấy xác bỏ ra để giữ lại chất chua và không quên đập dập vài cọng sả, băm vài trái ớt cho vào nồi nước… đun sôi. Một nồi nước với hương của sả, chua thanh của lá me non, và vị cay của ớt sẽ là chất đệm cho nồi canh chua cá chốt. Nước đã sôi, chính là lúc cho những con cá chốt bụng đầy trứng vào và nêm nếm cho vừa miệng ăn. Khi múc canh ra tô thì nhớ đừng quên điểm vào trên mặt một vài lá rau tần dày lá và vài lát ớt sừng trâu xắt nhỏ… Nhớ nhé ! Cá chốt nấu canh chua me chỉ ngon và mặn mà khi những con cá béo ngậy bụng đầy trứng chấm với đĩa muối cục đâm với ớt sừng trâu… 

    Còn gì ngon bằng phải không ? Vâng ! Hãy về quê tôi mùa này, mùa của những cơn mưa đầu để thưởng thức tô canh cá chốt nấu lá me non…

Gà đắp bùn

Hồi còn nhỏ, coi phim "đất phương nam", tui chỉ nhớ nhất đoạn cái ông ăn trộm làm món gà nướng đất sét cho nhân vật chính ăn. Rồi khi lớn lên ấp ủ hoài sẽ thực hiện cho bằng được món này .

Để có được món ngon đậm đà dân dã này. Ta chọn Gà (còn nguyên lông) được cắt tiết và bỏ phao câu đi. Tiếp đó là khéo léo moi ruột. Mở một lỗ ngay vị trí phao câu. Lòng gà được làm sạch, ướp gia vị rồi nhồi lại vào bụng, sau đó dùng chỉ hoặc dây lạt khâu kín các vết cắt nơi cổ gà và lỗ rút ruột gà (để đất sét đắp lên không tràn vào bụng gà). Nhúng gà cho ướt nước từ đầu đến chân; sau đó đắp đất sét kín lên cả con gà. Đất sét phải nhồi vừa đủ dẻo để làm tăng độ kết dính với lông và gỡ ra dễ dàng khi gà chín. Đắp đất thiệt dày để khi nướng, đất đủ độ nóng làm chín thịt gà...

Gà nướng xong dập bể đất sét,lông gà bám đất không cần nhổ cũng sạch bong,sau đó đem xé thịt, cà chua ,dưa leo xắt lát, mớ rau thơm và muối tiêu chanh chuẩn bị sẵn. Việc cuối cùng thì ngồi quây quần lại, chuẩn bị cho mình một vài ba câu chuyện tiếu lâm để buổi tương ngộ thêm phần rôm rả. Phải nói là món gà nướng đất Sét có mùi vị đặc trưng cho từng góc cạnh của khứu giác. Thịt gà vừa mềm lại ngọt không như nấu theo mọi cách khác.

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, niềm hân hoan nào rồi cũng đành nói lời tạm biệt. Một ngày của lo toan nhiều áp lực. Một nỗi ưu phiền của cuộc sống đã được món gà nướng đất sét hóa giải trong tôi. Chếnh choáng khập khễnh bước thấp bước cao, lần mò về nhà tìm giấc ngủ khi có thể và tâm hồn thấm mệt. Có một Sài Gòn còn mang nặng chút hương vị dân dã quê mùa qua món gà nướng đất sét còn đọng mãi trong tôi. Một mùi khoi khói không mà chưa nói ra cũng làm cay cả mi mắt ai đó. Luôn lan tỏa quyện vào tâm hồn hương vị khói nướng ngọt mềm cả môi lưỡi bao người.

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

Cúm Núm Nướng Mọi


Chưa bao giờ món nướng lại biểu dương sức mạnh như hiện nay. Quán xá mọc lên như nấm với thực đơn ê hề món nướng. Mà đâu chỉ có quán nhỏ, giờ đây nướng đã bành trướng thành… làng. Trăm người đều biết, triệu người cũng biết. Ra ngõ là gặp nướng. Kính thưa các loại nướng! 

Không ai chối cãi “phương pháp” nướng đã tạo ra những món ăn có mùi vị đặc trưng, rất khoái khẩu lại cũng vừa “đã” khứu giác nữa. Vì thế, mà từ cái thuở còn hồng hoang, khi vừa phát hiện ra lửa, con người đã bắt đầu “nghiện” món nướng. Tuy nhiên, gần gũi với chúng ta hơn vẫn là các kiểu nướng của người Việt mà có lẽ đặc trưng và phong phú nhất là món nướng của người dân Nam Bộ. 
Từ buổi khai thiên lập địa, người nông dân đã có công rất lớn trong việc “sáng tác” ra những món ăn độc nhất vô nhị. Trong đó, nứơng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống ẩm thực của họ. Chim, cá, ếch, nhái…đều trở thành những món nứơng ngon lành. Về miền sông nứơc Tây Nam Bộ, bạn sẽ không thể không thưởng thức món cá lóc nướng trui, ếch nướng đất sét, cu đất nứơng mọi, hoặc chim sẽ nướng sả ớt… đó là những kiểu nướng hết sức dân dã, rất đặc trưng, mà có người gọi đó là nướng khẩn hoang. 

Bạn đã thưởng thức qua món Chim Cúm Núm nướng mọi chưa? 

Cúm núm là một loại chim trời có thịt ngon hơn thịt gà nên người dân trong vùng còn gọi là gà nước. Cúm núm trống có lông màu nâu, có lốm đốm bông đen, đặc biệt, cúm núm trống có mòng đỏ thì lông đen ô. Trọng lượng cúm núm trống vào khoảng 300 – 400 gam. Cúm núm mái có màu nâu và cánh có lốm đốm bông đen. Trọng lượng cúm núm mái khoảng 200 – 300 gam. Sở dĩ dân đồng bằng gọi tên chim trời này là cúm núm vì cúm núm trống có tiếng kêu khá độc đáo “cúm, cúm cúm, cúm’… Tiếng kêu của cúm núm trống vang xa khoảng 1 km và chúng thường kêu vào lúc trời chiều hay đêm khuya.
Cúm núm nhổ lông sạch sẽ sau đó để trên bếp than, mùi thơm khen khét do mỡ từ thịt tươm ra thì không thể tả nổi. 

Về Bến Tre Thưởng Thức Ốc Gạo


Ốc gạo bắt đầu có nhiều từ tháng 3 âm lịch, nhưng rộ và nhiều nhất vào tháng 5. Về cồn Phú Đa, con ốc gạo tới mùa béo giòn đúng độ. Gu của dân xứ dừa thì món ốc gạo ngon hơn phải trộn thêm dừa rám nạo, cuốn bánh tráng chấm tương. Và còn biết bao là món ngon như ốc gạo um nước dừa, ốc xào củ hủ dừa, bánh xèo nhân ốc gạo củ hủ dừa… mang đậm sắc thái đặc trưng vùng Phú Đa.

Xuống cù lao Tân Phong, người dân ở đây sống trên thuận dưới hoà như bà con ruột thịt. Bởi lẽ họ quanh quẩn trên cái cù lao dài độ ba cây số, ngang chưa đầy một cây số rưỡi, sống bằng nghề xúc ốc gạo.
Người Tân Phong trông có khách phương xa đến thăm vào mùa ốc thế nào cũng phải mang đặc sản ra đãi. Trong các món thì ốc gạo luộc coi dễ ợt vậy mà không khéo thì mất ngon. Bắc chảo lên bếp, để lửa nóng, đổ ốc vào chảo đậy nắp cho kín, chừng vài phút, canh con ốc vừa hé miệng, trút nhanh ra thố. Vậy là có một món ốc gạo luộc nóng hổi, thơm bát ngát. Bẻ mấy cọng gai bưởi làm kim lể ốc, chấm nước mắm gừng, nhai chầm chậm để thấy con ốc ngọt lịm, béo đậm trong cái hậu giòn.
Ốc gạo trộn gỏi đu đủ làm món dưa cay thiệt bắt. Còn món ốc gạo chấy tỏi, vừa nghe mùi tỏi chấy bén mùi ốc bốc lên là
đã thấy ứa nước miếng. Vẽ duyên hơn thì làm ốc gạo tiềm thuốc bắc để bồi dưỡng. Khề khà mấy món ốc gạo với ly rượu đế, nói chuyện con ốc, mùa màng, làng xóm. Cuối buổi làm gì thì phải có món cháo ốc. Lể ốc, xào sơ với mỡ, tỏi, hành phi cho thơm, trút vào nồi cháo. Hoa cháo nở bung trắng mịn, thịt ốc vàng căng mọng, điểm hành xanh mát mắt. Múc mỗi người một tô, rắc tiêu thơm phức.

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Cháo Gỏi Vịt


Cháo vịt và gỏi vịt là 2 món khác nhau, nhưng thường được gọi chung là cháo gỏi vịt; do ở trong Nam thường được dùng chung với nhau, cũng như ở ngoài Bắc, tiết canh và cháo lòng khó có thể tách rời nhau.
Vào những ngày trời lạnh cống thế này dùng một tô cháo vịt  sẽ mang lại một cảm giác thật ấm bụng.
Vịt nhổ lông cho sạsh, bỏ vào một nồi nước sôi, bỏ vào một củ hành lớn ( nhớ nướng thơm, đập vỡ, sẽ tạo mùi nước luộc thơm hơn ), và 1 chút gừng đập cho dẹp một chút, bỏ vào luộc với vịt.
Để muối ( nếu thích ăn bột ngọt thì để vào ). Nhớ hớt bọt, để nước dùng được trong
Gạo vo cho sạch, bỏ vào chảo rang cho hơi vàng, cho thêm 1 chút gạo nếp, tạo mùi thơm
Vịt chín vớt ra, bỏ gạo vào nấu,
Vịt chặt ra, sắp vào một cái dĩa dài cắm chút rau ngò hay hành là tỉa hoa , hoặc rải tí củ hành phi. 
Lưu ý: Hành khô thái mỏng, nhỏ, phi thơm nhé, khi cháo đun gần nhừ thì cho vào, bạn sẽ ngửi thấy mùi thơm bốc lên lên hòa lẫn cùng mùi thơm của hành khô phi thơm, hương gạo nếp
Làm nước mắm tỏi:
Tỏi bóc vỏ, giả nhuyển, nước mắm chanh  pha ớt, đường, ( nếu muốn ít mặn, thì để chút nước ấm,) để gừng vào.
Khi ăn, múc cháo vào một cái tô, rải chút hành, ngò, rắc tí tiêu
Vịt lấy ra, chấm với nước mắm tỏi gừng.

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Cá Lóc Nướng Trui


Từ thuở ông cha ta khai hoang mở cõi đất phương Nam, món cá lóc nướng trui dân dã đã là một đặc sản chẳng nơi nào khác có được.


Đây cũng là món ăn người bản địa thường dùng đãi khách phương xa (Bắt con cá lóc nướng trui/ Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa - ca dao).

Những ngày cuối năm tiết trời se lạnh, nhiều người dân miền Tây Nam bộ ưa đi “nhấp” cá lóc. Bấy giờ cá đã từ ruộng xuống ao đìa, kênh rạch. Các mương lớn cỏ dại bò lan đầy mặt nước chính là nơi cá lóc thường trú ngụ.
Để đi nhấp cá phải có cần câu được làm bằng thân cây lục bình (một loại tre, trúc) dài độ ba sải tay người lớn, nhợ câu là sợi dây gân lớn, lưỡi câu lớn uốn bằng inox, với mồi câu thường là nhái hoặc thằn lằn. Cá lóc hay táp mồi trên mặt nước, vì vậy người câu quăng nhợ ra xa rồi nhẹ tay kéo cho mồi chạy lăn tăn trên mặt ao, mương… Thấy mồi, cá lóc sẽ lao lên táp và hết phương thoát thân.
Cá lóc câu được đem về rọng qua đêm cho tiêu hóa hết thức ăn trong ruột. Dùng nhánh trúc nhỏ xuyên từ họng cá đến đuôi cá. Cẩn thận hơn, người ta còn chế ít nước sạch vào miệng cá để khi nướng, nước trong bụng cá sôi lên khiến bộ ruột cá chín kỹ, ngon hơn. Cắm thân trúc xuống đất, cho đuôi cá hướng lên trên rồi chất rơm khô xung quanh và đốt lửa.
Theo kinh nghiệm, người ta biết cần cỡ bao nhiêu rơm cho cá chín. Khi rơm tàn, lớp vảy cá cháy khét, mùi thơm bốc lên ngào ngạt.
Cá đã nướng chín được đặt lên nửa tàu lá chuối xiêm, dùng rơm khô cạo sạch lớp vảy cháy khét. Đây là công đoạn quan trọng bởi nếu chậm tay, vảy cá sẽ dính chặt vào mình cá, nhưng không được cạo quá mạnh khiến cá bị nát, trông nham nhở, không còn ngon miệng. Cạo xong, dùng đũa tách đôi cá ra làm hai phần, lộ thịt cá trắng phau, ngọt lịm.

Vào những ngày cuối tháng Chạp, khi tát đìa hay dở chà bắt cá, những con cá lóc đồng đen trũi trên dưới 0,5kg được rọng trong lu, khạp bà da bò để chuẩn bị cho mấy ngày xuân sắp tới, lúc đó khi đã ngán thịt thà, người ta thay đổi khẩu vị với món cá lóc nướng.
Ăn món ngon, cao hứng ca vài câu vọng cổ, để cảm nhận được tâm hồn mình đã quyện chặt với cuộc sống đồng quê êm đềm mà sâu lắng: Trời mưa mát đất con cá lóc nó thoát khỏi nò/ Mùng ai có rộng cho tôi ngủ nhờ một đêm.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

Bánh Xèo Miền Nam Bộ


Chắc hẳn ai trong đời cũng từng ăn qua món bánh xèo. Đây còn là 1 món ăn được rất nhiều người yêu thích và được bán ở rất nhiều nơi. Mỗi nơi thường có những hương vị và nguyên liệu chế biến hơi khác nhau 1 chút. 
Cái tên gọi "bánh xèo" cũng làm người ta nghĩ suy "có phải rằng tiếng xèo xèo khi đổ làm nên tên gọi của chiếc bánh". Chiếc bánh ở từng vùng cũng khác nhau về kích cỡ và cách làm nhân: bánh xèo Huế, bánh xèo Phan Thiết thường nhỏ nhưng bánh xèo Nam Bộ lại khác hẳn, to và nhiều nhân. Nhất là ai đã về miền Tây Nam Bộ thưởng thức chiếc bánh xèo giòn rụm với đủ loại rau chắc khó thể nào quên.Bánh xèo Nam Bộ thường thì mùa nào thức nấy, ngày thường bà nội trợ hay dùng giá hoặc củ sắn thái sợi cùng thịt ba chỉ, tép bạc làm nhân. Đến mùa mưa măng mọc, nấm mối rộ trong vườn, bánh xèo được thay nhân mới bằng măng tươi thái sợi, nấm mối xào ngon tuyệt cú mèo, đến mùa nước lên điên điển đơm bông, nhân bánh lại rực một màu vàng.

Cách chế biến bánh xèo khá đơn giản. Trước tiên, ta lựa loại gạo ngon, ngâm qua đêm cho mềm, rồi cho vào cối xay thành bột. Sau khi xay xong, dùng vải mỏng lược bỏ tạp chất, sẽ cho ra một loại bột thật mịn. Dùng bột nghệ pha với bột cho có màu vàng hấp dẫn, sau đó cho vào bột một ít nước cốt dừa, có nơi còn cho thêm trứng gà để bánh thơm và giòn hơn. Nhân bánh thì tùy theo sở thích của từng vùng, có thể là giá hoặc bông điên điển, thịt ba rọi, tép, thịt gà, hoặc thịt vịt bằm nhuyễn nhưng đặc trưng nhất và ngon nhất vẫn là những chất liệu tìm được trên đồng (tép, bông điên điển, rau vườn…) Bánh xèo thường ăn kèm với nhiều loại rau, thông thường như cải bẹ xanh, rau diếp cá, rau thơm, nhiều nơi bà con còn ăn với đọt xoài non, lá điều, lá cách, lá lụa, lá sung… Riêng ở núi Cấm – An Giang, bánh xèo được ăn với các loại rau núi rất độc đáo.
Nước chấm cũng là một trong những yếu tố góp phần tăng vị ngon cho bánh xèo. Tùy theo khẩu vị mà pha chế, nhưng nước mắm chấm bánh xèo phải có củ cải trắng, củ cải đỏ hoặc củ sắn xắt sợi. Có một điểm khá đặc biệt là ăn bánh xèo chỉ nên ăn bằng tay. Dùng tay chọn rau và cuốn bánh ăn mới cảm nhận được hết hương vị của bánh xèo.

Ngày nay trong các nhà hàng sang trọng bánh xèo được sáng tạo nên nhiều loại nhân khác nhau: nấm kim châm, hải sản, phi lê gà...cũng hấp dẫn không kém. Với chiếc bánh xèo đầy màu sắc lẫn mùi vị đó khi ăn lại được cuốn trong các loại rau xanh và chấm với nước mắm chua ngọt, trong có để cà rốt và củ cải trắng ngâm giấm. Rau xanh đủ loại, đủ thành phần từ trong vườn, dưới ruộng và cả ven sông: quế nước, đọt sọp, đọt lụa, lá cách, lá điều, đọt xoài, đọt cóc, đinh lăng, sao nhái, sà lách, cải bẹ xanh, các loại rau thơm: tía tô, quế, húng lũi, húng cây...


Cá kèo còn gọi là cá bống kèo, sống ở vùng phù sa ngập mặn. Thịt cá rất sạch, đặc biệt túi mật để lại hương vị khó quên.
Có thể chế biến cá kèo thành nhiều món ăn như: kho tiêu, chiên giòn, kho rau răm, nướng muối ớt, nướng bơ tỏi, lẩu mắm cá kèo, cháo cá kèo... và thêm một món vừa cầu kỳ, vừa dân dã chính là cá kèo nướng ống sậy.
Sậy để nướng cá kèo nên chọn sậy non, mập và nhiều nước, cắt từng đoạn, có đầu rỗng để đưa cá vào. Cá bống kèo còn sống rửa sạch rồi ướp gia vị với rượu mùi. Khi nhét cá vào sậy, chừa phần đuôi thòi ra. Cho lửa than hồng riu riu. Cách nướng trực tiếp này làm cho cá kèo mềm hơn, ngọt hơn, nhất là nước ống sậy tươm ra thấm vị ngọt và mùi thơm đặc trưng của sậy. Khi ống sậy vừa vàng, xẹp xuống nhanh là cá cũng vừa chín nhờ sức nóng của nước ống sậy tiết ra.

Rau thơm, chuối chát là món ăn kèm cùng cá. Cá nướng ống sậy không kén thức chấm. Chỉ cần muốt ớt chanh là đủ.
Xé ống sậy ra, hơi nóng từ con cá bốc lên, cho miếng cá vào miệng, vị ngọt của cá hòa cùng vị ngọt của sậy. Vị cay, mặn, chua của muối ớt chanh cho ta hương vị rất lạ, ngon không chê vào đâu được. Vị ngon của cá bống kèo tập trung ở gan, mật, vừa béo vừa nhân nhẫn nhưng hậu rất ngọt. 

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Thanh nhẹ vị Bánh khọt phương nam


Thanh nhẹ vị Bánh khọt phương nam
Tính cách Nam Bộ xuề xòa nên người miền nam thường thích những món ngon dân dã, trong đó có món bánh khọt quen thuộc khắp các vùng quê.
Đôi ba thập kỷ trước, bánh khọt thường là địa chỉ lê la vỉa hè của các "bà tám". Bây giờ đó đây vẫn sót lại đơn sơ những gánh bánh khọt bên đường. Người bán ngả quang gánh ra là có ngay một bếp lò nóng rực than hồng để đặt chiếc khuôn có nhiều lõm nhỏ thoa mỡ dầu, bên cạnh có thau bột pha sẵn. Chủ gánh liền tay cầm chiếc gáo cán dài múc bột rót vào từng lõm khuôn, tùy giá tiền khách chọn mà làm bánh bột suông, thêm nhân đậu xanh, hay đặt vào lòng bánh một con tôm nõn đã bóc vỏ. Đậy vung đôi ba phút là bánh chín. Những chiếc bánh bé xíu được lấy ra rất nhanh, để khuôn tiếp tục được thoa mỡ, chan bột, điểm nhân, đậy nắp...